Bộ test nước mua về thì ai cũng dùng được trong mười phút. Cái khó là đọc con số. Cùng một mức pH, ao này ổn, ao kia lại đang báo động, vì giờ đo khác, vì kiềm khác, vì tảo khác. Vụ đầu tiên của tôi, tôi đo rất chăm mà vẫn trễ tay, vì nhìn từng số riêng lẻ chứ không nhìn chúng đi cùng nhau.

Đây là cách tôi làm và dạy lại người mới. Không phải quy trình chuẩn cho mọi ao. Tôm thẻ, tôm sú, ao đất, ao lót bạt, nuôi mật độ cao hay vừa đều có chỗ khác. Nhưng khung suy nghĩ thì dùng chung được.

1 – Đo cái gì, đo lúc nào

Mỗi ngày, tối thiểu tôi đo pH hai lần, sáng sớm và chiều. Oxy hòa tan đo sáng sớm và ban đêm khi trời xấu. Kiềm đo vài ngày một lần, ao có vấn đề thì đo hằng ngày. Khí độc như amoni, nitrit đo theo lịch tuần, tăng tần suất khi tôm lớn và lượng thức ăn nhiều. Độ mặn đo khi có mưa lớn hoặc khi cấp nước mới. Độ trong đo bằng đĩa Secchi, thứ rẻ tiền mà nhiều người bỏ qua.

Vì sao sáng sớm? Ban đêm tảo không quang hợp mà vẫn hô hấp, cùng với tôm và vi sinh vật, nên oxy giảm dần và CO2 tăng, kéo pH xuống. Cuối đêm, gần sáng, là lúc cả hai thấp nhất. Chiều thì ngược lại, tảo làm việc cả ngày nên pH cao nhất.

Dụng cụ của tôi gồm bút đo pH điện tử, máy đo oxy cầm tay, bộ test nhanh dạng so màu cho kiềm, amoni, nitrit, khúc xạ kế đo độ mặn, và đĩa Secchi. Bút pH phải hiệu chuẩn định kỳ bằng dung dịch chuẩn. Đầu đo oxy phải giữ ẩm, thay màng khi cần. Dụng cụ sai thì mọi quyết định phía sau đều sai.

2 – Đọc con số cho đúng

Phần này là chỗ người mới hay lúng túng nhất.

pH và độ chênh trong ngày

Nhiều tài liệu kỹ thuật lấy khoảng pH quanh 7,5 đến 8,5 làm vùng thích hợp cho tôm nước lợ. Nhưng tôi để ý độ chênh giữa sáng và chiều nhiều hơn là con số đơn lẻ. Chênh ít là nước ổn. Chênh nhiều là dấu hiệu tảo quá dày hoặc kiềm thấp, nước không còn khả năng giữ pH.

Kiềm là bộ đệm

Kiềm cao vừa phải thì pH khó dao động mạnh. Một số khuyến cáo kỹ thuật của ngành nông nghiệp địa phương đưa khoảng 100 đến 200 mg/L cho nước ao lắng trước khi cấp vào ao nuôi. Kiềm còn liên quan đến việc tôm lột xác và cứng vỏ, nên ao kiềm thấp thường đi kèm tôm mềm vỏ.

Oxy và khí độc đi cùng nhau

Oxy thấp làm tôm yếu, đồng thời làm quá trình phân hủy đáy ao chuyển sang kiểu yếm khí, sinh ra khí độc. Amoni ở dạng độc hơn khi pH và nhiệt độ cao. Hydro sunfua độc hơn khi pH thấp. Nên một con số khí độc phải đọc cùng pH và giờ đo, không đọc riêng.

Ví dụ tôi hay cho người mới tự suy: Ao A sáng pH hơi thấp, chiều lên cao, độ trong giảm mạnh so với tuần trước, kiềm đo được thấp hơn lần trước. Đọc riêng từng số thì cái nào cũng “chưa tới mức báo động”. Đọc chung thì câu chuyện là tảo đang nở dày, kiềm tụt, pH dao động mạnh. Việc nên làm là bổ sung kiềm từ từ, cân nhắc thay một phần nước, giảm nhẹ thức ăn và theo dõi oxy đêm nay sát hơn. Chưa cần thuốc gì cả.

3 – Chỉnh nước bằng gì

Tôi chia công cụ chỉnh nước ra làm mấy nhóm, mỗi nhóm có chỗ dùng riêng:

– Vôi các loại và khoáng dùng để nâng kiềm, ổn định pH, xử lý đáy trước vụ; phải biết loại vôi nào dùng lúc nào vì có loại làm pH lên rất nhanh.
– Natri bicarbonat (soda lạnh) hay được dùng nâng kiềm mà ít đẩy pH lên đột ngột.
– Chế phẩm vi sinh dùng để phân hủy chất hữu cơ, giảm khí độc ở đáy, nhưng cần oxy đủ mới làm việc được.
– Thay nước và quạt nước là hai công cụ cơ học, hiệu quả nhưng tốn chi phí và phụ thuộc nguồn nước ao lắng.

Thứ tự tôi ưu tiên thường là chỉnh thức ăn và quạt trước, rồi mới tới hóa chất, chế phẩm. Rất nhiều vấn đề nước ao bắt nguồn từ cho ăn dư. Cắt bớt thức ăn là cách rẻ mà người mới hay quên nhất.

Liều lượng cụ thể thì tôi không ghi ở đây, vì nó phụ thuộc diện tích, độ sâu, tình trạng ao và hướng dẫn của từng sản phẩm. Ai mới vào nghề nên tính liều cùng người có kinh nghiệm trong vài lần đầu.

4 – Mùa mưa và lúc thời tiết đổi

Mưa lớn làm nước ao phân tầng, lớp mặt ngọt và lạnh hơn, độ mặn và kiềm tụt, pH có thể giảm. Ao đất vùng đất phèn còn bị nước phèn từ bờ chảy xuống. Trước mùa mưa, tôi kiểm bờ ao, chuẩn bị sẵn vôi rải quanh bờ, và bố trí quạt chạy nhiều hơn để nước không phân tầng.

Trời âm u kéo dài vài ngày cũng nguy hiểm. Tảo thiếu nắng, có khi tàn hàng loạt, nước đổi màu nhanh, đáy ao nhận thêm xác tảo. Lúc đó lo oxy trước, rồi mới tới giảm thức ăn.

Tôi để ý người làm lâu năm trong nghề nuôi và chế biến thủy sản hiếm khi nói về một con số riêng lẻ. Họ nói về xu hướng: ba ngày nay kiềm cứ tụt dần, tuần này độ trong giảm nhanh hơn tuần trước. Muốn nhìn được xu hướng thì phải có sổ, ghi đủ và ghi đúng giờ.

5 – Sổ nhật ký nước ao

Sổ của tôi chia cột theo ngày, mỗi ao một trang. Cột gồm giờ đo, pH, oxy, nhiệt độ, độ trong, độ mặn khi đo, kiềm khi đo, khí độc khi đo, màu nước, lượng thức ăn, việc đã làm. Một cột cuối để ghi nhận xét ngắn bằng chữ.

Cột nhận xét là cột tôi quý nhất. Ghi kiểu “nước có mùi tanh nhẹ”, “bọt dày ở góc gió”, “tôm bơi lờ đờ ven bờ chiều nay”. Sau vài vụ, đọc lại cột này cho mình thấy được những dấu hiệu sớm hơn số đo.

Nhiều trại giờ đã dùng bảng tính trên điện thoại hoặc phần mềm quản lý ao. Tiện, vẽ được biểu đồ pH theo ngày, thấy xu hướng rõ hơn. Tôi vẫn giữ sổ giấy song song ở chòi, vì mất sóng, hết pin hay điện thoại rơi xuống ao là chuyện có thật.

6 – Mấy lỗi tôi hay thấy ở vụ đầu

Đo sai giờ là lỗi phổ biến nhất. Đo pH lúc chín giờ sáng rồi ghi là “sáng” thì số liệu không so được với hôm trước.

Thứ hai là xử lý quá tay. Thấy một chỉ số lệch là đổ hóa chất ngay, liều mạnh. Nước ao bị đẩy qua lại, tôm sốc. Chỉnh từ từ, theo dõi rồi chỉnh tiếp thường an toàn hơn.

Thứ ba là tin hoàn toàn vào bộ test so màu. Bộ test hết hạn, bảo quản nóng, đọc dưới ánh sáng vàng đều cho kết quả lệch. Thỉnh thoảng nên gửi mẫu tới phòng phân tích để đối chiếu.

Thứ tư là chỉ lo nước mà quên đáy. Nhiều vấn đề nước ao thật ra bắt đầu từ bùn đáy, chất thải tích tụ ở giữa ao, chỗ quạt không đẩy tới. Quan sát vị trí gom chất thải, xi phông đáy nếu ao lót bạt có hệ thống, là phần không tách khỏi việc quản lý nước.

Tôi nghĩ người mới không cần thuộc hết các ngưỡng ngay vụ đầu. Cần đo đúng giờ, ghi đủ, và tập đọc các con số cùng nhau. Phần còn lại tới dần qua từng vụ.

Khi dùng vôi, hóa chất hay chế phẩm, hãy đọc kỹ hướng dẫn của nhà sản xuất, đeo bảo hộ khi pha, và chỉ dùng sản phẩm được phép lưu hành trong nuôi trồng thủy sản.